Nghị luận Văn học là gì? Và cách làm bài văn nghị luận văn học

Nghị luận văn học là gì là một trong những từ khóa có số lượt tìm kiếm cực kỳ nhiều. Đặc biệt đối với các bạn đang chuẩn bị bước vào kỳ thi THPT Quốc gia thì việc làm bài nghị luận văn học là một yếu tố quyết định đến điểm số môn Văn.

Nghị luận văn học là gì và cách làm bài văn nghị luận văn học

A. Một số khái quát về văn nghị luận

Văn nghị luận là dùng những lý lẽ của mình để thuyết phục, bàn bạc người khác về một vấn đề nào đó. Để thuyết phục người khác nghe theo quan điểm, ý kiến của mình, giúp mọi người nhận thức được vấn đề nào là đúng. Chúng ta có thể gọi thái độ là tình, cón ý kiến là lý. Để thuyết phục được ý kiến của mình thì chúng ta cần có phải có dẫn chứng, lập luận sắc bén, có như vậy thì mọi người mới cảm tahats thuyết phục và đồng ý với quan điểm của mình.
Bài văn nghị luận cần phải đúng hướng, phải có trật tự, mạch lạc, câu từ phải trong, sáng sinh động và không kém phần hấp dẫn.
Một số thao tác chính của bài văn nghị luận là giải thích, chứng minh, phân tích và luận….
Còn đối với nghị luận văn học thì là dạng đưa ra các vấn đề bàn luận là các vấn đề bàn bạc về văn học, có thể là tác giả, tác phẩm, ý kiến nhận định về tác phẩm, nhân vật trong tác phẩm…
Khi làm bài nghị luận văn học thì chúng ta cần phải nắm chắc kiến thức cơ bản ở mỗi tác phẩm, tác giả…
Đối với thơ thì cần chú ý đến hình thức như nhịp điệu, cách gieo vần, cấu trúc…
Đối với tác phẩm văn xuôi thì chú ý đến cốt truyện, nhân vật, tình tiết, các dẫn chứng cần chính xác, chọn lọc, chú ý đến các giá trị: nhân đạo, tình huống truyện…
B. Các cách làm bài nghị luận văn học
Bước: Tìm hiểu đề
Thông thường sẽ có hai đạng đề: nếu như dạng đề nổi thì chúng ta sẽ dễ dàng nhận thấy trên câu chữ lúc ấy chỉ cần gạch chân là có thể làm được. Đối với đề chìm thì các bạn cần nhớ lại lại các bài học về tác phẩm ấy, dựa vào chủ đề của bài đó mà xác định đề bài.
II. Tìm ý và lập dàn ý
1. Tìm ý:
Ở bước này chúng ta cần tái hiện lại kiến thức những giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm đó, những nội dung đã được học ở trên lớp và được thầy cô giảng rất kỹ.
2. Lập dàn ý:
Dựa trên việc xác định các ý đã tìm được thì các bạn cần phác họa ra 2 dàn ý sơ lược, và chúng ta cần triển khai dàn ý thành 3 phần khác nhau.

Ví dụ:  phân tích văn học bài Tràng giang

Nghị luận văn học là gì?
Nghị luận văn học là gì?

Huy Cận là nhà thơ trưởng thành trong phong trào Thơ mớ ( 1930 – 1945) với sự kết hợp giữa phong cách cổ điển và hiện đại. Phong cách thơ của ông khác hẳn từ giai đoạn trước và sau cách mạng Tháng 8 . Đó sự chuyển biến giữa nỗi u sầu thời đại sang một cuộc sống mới tràn đầy sức sống. Bài thơ Tràng Giang là một sáng tác trước cách mạng tháng 8 chứa một nỗi niềm chất chứa khó tả. Bài thơ để lại trong lòng người đọc những nỗi niềm khó tả.
Ngay từ nhan đề bài thơ chúng ta đã thấy được tư tưởng và cảm xúc chủ đạo của bài thơ. Tràng giang có nghĩa là dòng sông dài và rộng, mênh mông và bát ngát. Từ Hán Việt Tràng Giang đã gợi cho người đọc đến nững câu thơ Đường của Trung Quốc..
Lời đề tựa “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” đã khái quát lên toàn bộ nội dung của bài thơ, nỗi niềm bâng khuâng, không biết chia sẻ cùng ai khi trước một khung cảnh bát ngát mênh mông như vậy. Cả bài thơ toát lên được nét cổ điển vừa hiện đại của bài thơ.
Bước bài khổ thơ đầu tiên chúng ta liên tưởng đến một con sông vừa dài vừa rộng, và con người đứng bơ vơ giữa trời đất:
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song
Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng

Hàng loạt các từ ngữ gợi buồn thê lương “buồn”, “xuôi, mái”, “ sầu trăm ngả” kếp hợp với các từ láy dường như đã lột tả hết được nỗi buồn vô biên, vô tận của tác giả trong thời thế nhiều bất công như hiên nay. Ngay từ khổ thơ đầu, nét chấm phá và nét cổ điển đã được thể hiện rất rõ. Tác giả đã mượn hình ảnh con thuyền xuôi mái và hình ảnh “củi khô” để thiện được sự mênh mông của sóng nước và sự lạc lõng của con người. Sức gợi tả của câu thơ thực sự ám ảnh, một con sông dài bất tận, đơn lẻ mênh mông, vô tận, vô định. Cậu thơ gợi nên sự ám ảnh thực sự cho người đọc. Thuyền và nước là hai thứ không thể tách rời nhau được nhưng trong câu thơ tác giả lại viết, “thuyền về nước lại sầu trăm ngả” , sự chia lài không báp trước làm chúng ta đều cảm thấy xót xa vô cùng. Một nỗi buồn đến tận cùng vô tận, mênh mang cùng sông nước dập dềnh. Điểm nhấn của khổ thơ chính là ở câu thơ cuối của bài thơ với hình ảnh “củi” tạo nên sự đơn chiếc lẻ bóng. Tác giả đã sử dụng nghệ thuật đảo ngữ “củi một cành khô lạc mấy dòng” làm cho câu thơ trở nên buồn, lẻ loi, cô quạnh hơn. Đây cũng là câu thơ của nhà thơ mới ở thời kỳ ấy, một kiếp người đa đoan, có tài nhưng long đong lận đận, loay hoay hoat giữu cuộc sống kim tiền.

Đến khổ thơ thứ hai dường như nỗi hiu quạnh lại được tăng lên gấp bội:

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

Nắng xuống trời lên sâu chót vót

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu

Hai câu thơ đầu phảng phất một khung cảnh buồn đìu hiu và vằng lặng của một làng quên buồn, không có sức sống. Hình ảnh cồn nhỏ nghe rất rõ tiếng gió đìu hiu đến tận sâu vào cõi lòng. Ngay cả đến 1 tiếng ồn ào nơi chợ chiều cũng thể nghe thấy được, phải chăng phiên chợ ấy cũng đìu hiu đến vậy? Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều? Là một câu hỏi của tác giả mang đầu nỗi niềm chất chứa, dưỡng như chính tác giả đang tự vấn bản thân mình. Từ đâu nghe thật hụt hẫng, không có điểm tựa, nơi bến nước không một bóng người, không có một tiếng động nghe thật chua xót. Hai câu thơ tiếp sau tác giả mượn hình ảnh trời  “sâu”, lấy chiều cao để đo chiều sâu thật sự là nét tài tình tình tế và độc đáo của Huy Cận. Hình ảnh sông nước mênh mông, cô liêu làm cho con người cảm thấy buồn đến tân cùng, không biết ngỏ cùng ai.

Ở khổ thơ thứ ba, tác giả muốn tìm thấy sự ấm áp nơi hiu quanh ấy nhưng dường như nỗi lòng ấy không được đáp trả.

Bèo dạt về đâu hàng nối hàng

Mênh mông không một chuyến đò ngang

Không cầu gợi chút niềm thương nhớ

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng

Sang khổ thơ thứ 3 tác giả đã tập trung đặc tả khung cảnh thiên nhiên, sự vận động của thiên nhiên, không còn u buồn và tĩnh lặng đến thê lương như ở khổ thơ trước nữa. Từ “dạt” đã diễn tả thật tinh tế sự chuyển biến của vạn vật. Tuy nhiên, từ ngữ nàu gắn với hình ảnh cánh bèo lại một lần nữa làm cho tác giả thất vọng. Vì bèo vốn dĩ trôi vô định không có đích đến. Mặt nước mênh mông không có một chuyến đò nào. Tác giả chỉ chờ đợi một chuyến đò để thấy được sự sống vẫn còn tồn tại nhưng dường như điều này là không thể xảy ra.

Mong ngóng tìm được nơi bấu víu trao đặt niềm tin nhưng tác giả lại nhận được sự im lặng đến não lòng người của cảnh vật.

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa

Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

Tư tưởng tâm tình của tác giả được gửi gắm qua khổ thơ này. Nét chấm phá mây cao và núi bạc giống như trong thơ Đường khiến cho sầu càng thêm sầu. Bóng chiều là vô hình không thể nhìn thấy được nhưng dưới con mắt của tác giả cảm nhận được bóng chiều đang dần xuống.

Hai câu thơ cuối chính là nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương của tác giả không biết gửi vào đâu, chỉ biết chất chứa đong đầy trong trái tim. Câu thơ của Huy Cân khiến cho người đọc liên tưởng đến câu thơ của nhà thơ Thôi Hiệu đời đường:

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai

Là sóng của sông hay là sóng trong lòng người

Bài thơ Tràng Giang của Huy Cận chính là sự kết hợp giữa phút pháp hiện thực hiện thực và cổ điển đã vẽ lên một bức tranh thiên u buồn hiu quanh. Qua đó, nhà  thơ cũng thể hiện được tâm trạng cô liêu u buồn hiu quạnh. Đó cũng chính là tình yêu quê hương thiên nhiên đất nước của nhà thơ cùng những con người trí thức lúc bấy giờ.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *